Tuyên ngôn độc lập - giá trị bất hủ và trách nhiệm của Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay

Thứ sáu - 29/08/2025 16:16
Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là văn kiện lịch sử vô giá, không chỉ đánh dấu sự ra đời của một quốc gia độc lập, mà còn để lại nhiều giá trị trường tồn về lý luận, pháp lý, chính trị và nhân văn. Gần 80 năm đã trôi qua, những tư tưởng bất hủ trong Tuyên ngôn vẫn soi đường cho cách mạng Việt Nam, đồng thời tiếp thêm sức mạnh cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
1. Giá trị lịch sử và thời đại của Tuyên ngôn Độc lập
Tuyên ngôn Độc lập là thành quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - cuộc cách mạng “long trời lở đất” đã lật đổ ách thống trị thực dân, phong kiến hàng trăm năm, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Với sự kiện này, dân tộc Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, mở ra trang sử mới trong tiến trình phát triển dân tộc.
Không chỉ mang ý nghĩa lịch sử dân tộc, Tuyên ngôn Độc lập còn có giá trị pháp lý và chính trị quốc tế đặc biệt quan trọng. Trong bản Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo trích dẫn những câu chữ bất hủ từ Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789, để làm sáng tỏ một chân lý phổ quát: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm của mọi dân tộc. Từ cơ sở pháp lý ấy, Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” (1). Đây là tuyên bố đanh thép, bác bỏ mọi âm mưu tái chiếm của thực dân Pháp, đồng thời đặt cách mạng Việt Nam trên nền tảng chính nghĩa vững chắc trước dư luận thế giới.
Bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam cũng có tác động to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu. Trong bối cảnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi làn sóng độc lập đang dâng cao ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, sự kiện Việt Nam giành độc lập và lời tuyên bố bất hủ tại Ba Đình đã cổ vũ hàng triệu con người bị áp bức vùng lên đấu tranh. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là “tiếng chuông” (2) mở đầu cho sự sụp đổ không thể cưỡng lại của hệ thống thuộc địa thế giới trong thế kỷ XX.
Giá trị của Tuyên ngôn không chỉ nằm trong quá khứ. Ngày nay, những tư tưởng cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Đó là khát vọng độc lập, tự do, quyền bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, tinh thần Tuyên ngôn tiếp tục soi sáng, nhắc nhở chúng ta phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng một nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc.
2. Ý nghĩa Tuyên ngôn Độc lập trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định độc lập dân tộc là giá trị thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa với nhiều thách thức mới về chủ quyền, an ninh phi truyền thống, tinh thần Tuyên ngôn nhắc nhở chúng ta phải kiên định bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời khéo léo trong đối ngoại để nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng của cách mạng. Ngày nay, công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây chính là sự kế thừa và phát triển tinh thần Tuyên ngôn trong điều kiện mới.
Thứ ba, Tuyên ngôn Độc lập khẳng định sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Sức mạnh ấy đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách trong chiến tranh,  ngày nay tiếp tục là nhân tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, phát triển bền vững. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đoàn kết toàn dân càng có ý nghĩa then chốt.
Như vậy, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là quá khứ vinh quang mà còn là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
3. Trách nhiệm của Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên trong việc vận dụng và lan tỏa tinh thần Tuyên ngôn Độc lập
Là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của tỉnh, Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên có trách nhiệm đặc biệt trong việc nghiên cứu, giảng dạy và lan tỏa giá trị bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập.
Thứ nhất, nhà trường cần tăng cường nghiên cứu khoa học, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của Tuyên ngôn trong bối cảnh mới. Đây không chỉ là nhiệm vụ học thuật, mà còn là cơ sở để nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị, góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng vững chắc cho đội ngũ cán bộ của tỉnh.
Thứ hai, trong công tác giảng dạy, mỗi giảng viên phải thấm nhuần tinh thần Tuyên ngôn, truyền đạt đến học viên không chỉ kiến thức lý luận, mà còn khơi gợi khát vọng độc lập, tự do, tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân. Bài giảng cần gắn kết nhuần nhuyễn giữa giá trị Tuyên ngôn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
Thứ ba, nhà trường có trách nhiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực toàn diện. Đây là nhiệm vụ cốt lõi để hình thành lớp cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh trong thời kỳ hội nhập.
Thứ tư, Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên cần lan tỏa giá trị Tuyên ngôn ra cộng đồng thông qua các hoạt động nghiên cứu, hội thảo, tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức chính trị - tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh.
Có thể khẳng định Tuyên ngôn Độc lập là bản anh hùng ca bất tử, khẳng định chân lý vĩnh hằng về quyền độc lập, tự do, hạnh phúc của mọi dân tộc. 80 năm đã trôi qua, ánh sáng của bản Tuyên ngôn vẫn soi đường cho cách mạng Việt Nam và lan tỏa trong tiến trình phát triển nhân loại.
Đối với Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, việc nghiên cứu, giảng dạy và vận dụng tinh thần Tuyên ngôn Độc lập vừa là trách nhiệm, vừa là sứ mệnh cao cả. Hoàn thành sứ mệnh này, nhà trường không chỉ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, mà còn trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Thái Nguyên và đất nước. Tinh thần “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” trong Tuyên ngôn Độc lập sẽ tiếp tục là ngọn lửa bất diệt, thôi thúc các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên của Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên phấn đấu, cống hiến vì quê hương giàu đẹp, văn minh, vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
 Tài liệu tham khảo:
(1) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 1-5.
(2) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 112-118.
            ThS. Nguyễn Thành Chung
                                                                  Khoa Lý luận cơ sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập229
  • Hôm nay40,841
  • Tháng hiện tại1,207,787
  • Tổng lượt truy cập28,124,905
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây