Chủ tịch Hồ Chí Minh với khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi mọi sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc - thực dân, sau gần 30 năm bôn ba khắp thế giới, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định đi theo con đường cách mạng vô sản hướng tới mục tiêu giành độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Người đã mang ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin để mở lớp bồi dưỡng cách mạng cho những thanh niên yêu nước Việt Nam tại Quảng Đông - Trung Quốc; tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, luôn nung nấu khát vọng trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.
Ngày 28/01/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc sau gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người chọn Cao Bằng làm căn cứ địa đầu tiên, từ đó xây dựng lực lượng, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước và chuẩn bị những điều kiện quyết định cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lựa chọn ấy thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc vàlà kết quả của sự cân nhắc kỹ lưỡng, gắn chặt với bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước.
Thứ nhất, xét về bối cảnh quốc tế, đầu năm 1941, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn ngày càng quyết liệt, làm rung chuyển toàn bộ trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa. Năm 1940, nước Pháp - chính quốc của thực dân Pháp ở Đông Dương nhanh chóng thất bại trước phát xít Đức, dẫn đến sự tan rã của bộ máy cầm quyền và sự suy yếu nghiêm trọng của hệ thống thuộc địa. Tại Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, vừa phải đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân bản xứ, vừa chịu sức ép và sự khống chế ngày càng tăng của phát xít Nhật. Việc quân đội Nhật tiến vào Đông Dương từ cuối năm 1940 đã làm cho mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc thêm gay gắt, đồng thời làm sâu sắc thêm mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâm lược.
Trong bối cảnh đó, bộ máy thống trị của kẻ thù tuy vẫn còn vũ lực, nhưng đã bộc lộ rõ sự rạn nứt và suy yếu, tạo ra những điều kiện khách quan thuận lợi để cách mạng Việt Nam chuẩn bị chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, tiến tới vùng lên giành chính quyền khi thời cơ chín muồi. Không chỉ nhìn thấy rõ sự suy yếu của chủ nghĩa đế quốc trong bối cảnh chiến tranh thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sớm nhận thức được xu thế vận động tất yếu của cách mạng thuộc địa trong thời đại mới. Người hiểu rõ chiến tranh đế quốc tuy gây ra nhiều đau thương, mất mát, nhưng đồng thời cũng tạo ra những “khe hở” trong hệ thống thống trị của chủ nghĩa đế quốc, mở ra khả năng để các dân tộc bị áp bức vùng lên tự giải phóng. Chính vì vậy, việc trở về Tổ quốc vào đầu năm 1941 thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc nắm bắt và chủ động đón đầu thời cơ lịch sử, chuẩn bị cho những bước đi quyết định của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, xét về tình hình trong nước, đến đầu năm 1941, sau hơn 10 năm ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương đã từng bước trưởng thành về tổ chức, đường lối và bản lĩnh chính trị. Các cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân khi được giác ngộ và tổ chức. Tiếp đó, phong trào dân chủ 1936 - 1939 đã giúp Đảng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc tập hợp lực lượng, đấu tranh công khai, nửa công khai, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của mình trong xã hội. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới của tình hình thế giới và trong nước, cách mạng Việt Nam đứng trước yêu cầu phải có sự chuyển hướng chiến lược kịp thời, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chuẩn bị trực tiếp cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rằng cách mạng Việt Nam không thể chỉ dựa vào sự chỉ đạo từ xa, mà rất cần sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của người sáng lập và rèn luyện Đảng. Chỉ khi trực tiếp về nước, bám sát thực tiễn cách mạng, Người mới có thể kịp thời nắm bắt tình hình, điều chỉnh đường lối, xác định đúng nhiệm vụ trung tâm của cách mạng và xây dựng sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức trong toàn Đảng. Chính từ nhận thức sâu sắc ấy, Hồ Chí Minh đã quyết định trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, đưa Đảng vượt qua những thử thách mới và chủ động nắm bắt thời cơ lịch sử đang dần hình thành.
Thứ ba, xét về điều kiện chủ quan, sau gần 30 năm hoạt động cách mạng không mệt mỏi ở nhiều quốc gia và châu lục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích lũy được vốn tri thức lý luận sâu sắc, được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh phong phú của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Người không chỉ tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin mà còn vận dụng linh hoạt vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, Người đã xây dựng được uy tín lớn trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đồng thời đào tạo, rèn luyện được một đội ngũ cán bộ nòng cốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ khả năng đảm đương những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng trong nước. Những điều kiện ấy cho phép Người trở về Tổ quốc trong tư thế chủ động, tự tin, sẵn sàng đảm nhận vai trò trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong giai đoạn quyết định.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn ngày 28/01/1941 - thời điểm đầu xuân năm mới để trở về Tổ quốc không chỉ thuận lợi về mặt đi lại, bảo đảm yêu cầu bí mật, an toàn mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là sự trở về trong mùa xuân - mùa của khởi đầu và hy vọng, báo hiệu một bước ngoặt lịch sử mới của cách mạng Việt Nam. Từ căn cứ Cao Bằng, Người từng bước xây dựng căn cứ địa cách mạng, trực tiếp chỉ đạo việc thành lập Mặt trận Việt Minh, xác định đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, đồng thời, chuẩn bị toàn diện về chính trị, tổ chức và lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Như vậy, sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước ngày 28/01/1941 là sự kết tinh của tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị kiên định và sự gắn bó máu thịt của Người với dân tộc Việt Nam. Quyết định lịch sử ấy đã tạo tiền đề trực tiếp, có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời khẳng định vai trò lãnh tụ thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người luôn biết nắm bắt đúng thời cơ, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t. 6, t.7.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H.2011.
3. Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011.
4. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Trẻ (tái bản lần thứ 10), TP HCM 2011.
5. Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), Từ điển Hồ Chí Minh học, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2017.
6. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb