Vận dụng Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trong hoàn thiện quan hệ sản xuất, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên

Thứ ba - 05/05/2026 08:55
Trong lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất giữ vai trò chi phối sự vận động, phát triển của nền kinh tế. Lực lượng sản xuất là yếu tố năng động, thường xuyên biến đổi, bao gồm người lao động, trình độ khoa học - công nghệ, tư liệu sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất. Quan hệ sản xuất là tổng thể các mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.
Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam cho thấy, mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất đều đòi hỏi sự điều chỉnh tương ứng của quan hệ sản xuất. Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lý luận, từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển, trong đó kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) là sự cụ thể hóa sâu sắc quy luật này trong điều kiện mới. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; đồng thời khẳng định phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, gắn với ổn định và phát triển bền vững đất nước.
NQ 68 da6eef6b46

Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua cho thấy những điều chỉnh kịp thời, phù hợp về quan hệ sản xuất đã và đang góp phần phát triển lực lượng sản xuất cả về quy mô, trình độ và chất lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo nền tảng để Thái Nguyên phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Cụ thể:
Thứ nhất, công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu của tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, gắn với sự hình thành và phát triển của các khu, cụm công nghiệp tập trung, thu hút nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước.
Trong giai đoạn 2021- 2025, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt khoảng 7- 8%/năm. Riêng năm 2023, giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 972,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% so với năm 2022; năm 2024 ước đạt trên 1.030 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 8%; năm 2025 đạt gần 1.058 nghìn tỷ đồng, tiếp tục tăng trên 6% so với năm 2024.
Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong GRDP tăng rõ rệt, từ mức trên 52% đầu giai đoạn lên khoảng 54,1% vào năm 2025, trong khi tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm dần. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm trên 75% giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp, trở thành nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Những con số này phản ánh rõ xu hướng phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cho thấy yêu cầu khách quan phải tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất, nhất là cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tư nhân, nhằm khai thác hiệu quả động lực tăng trưởng mới theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Thứ hai, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số được ứng dụng ngày càng sâu rộng trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
 Trong giai đoạn 2021- 2025, tỷ lệ doanh nghiệp trên địa bàn có hoạt động đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất tăng đều qua các năm; đến năm 2025, ước tính trên 30% doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ đã triển khai các giải pháp tự động hóa, số hóa trong quản trị, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Riêng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số năng suất lao động tăng bình quân khoảng 6 - 7%/năm, cao hơn mức bình quân chung của nền kinh tế địa phương.
Trong nông nghiệp, việc ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh; đến năm 2025, toàn tỉnh có hàng trăm sản phẩm OCOP, trong đó nhiều sản phẩm được xây dựng theo chuỗi giá trị gắn với doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã kiểu mới.
Trong khu vực dịch vụ, thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, nền tảng số trong logistics và du lịch từng bước được mở rộng, góp phần nâng cao hiệu quả lưu thông, phân phối hàng hóa.
Đáng chú ý, doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò chủ thể quan trọng trong quá trình đổi mới công nghệ và chuyển đổi số, không chỉ đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại mà còn từng bước tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất, cung ứng trong nước và quốc tế, đặc biệt trong các ngành công nghiệp hỗ trợ, điện - điện tử, chế biến nông sản. Thực tiễn này cho thấy lực lượng sản xuất của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và quản trị hiện đại, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất, cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Thứ ba, nguồn nhân lực của tỉnh từng bước được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.
Nguồn nhân lực của tỉnh Thái Nguyên từng bước được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, gắn với sự phát triển tương đối đồng bộ của hệ thống các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn, trong đó Đại học Thái Nguyên giữ vai trò trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học lớn của khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh tăng từ khoảng 68% lên trên 72%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt xấp xỉ 30% vào năm 2025. Mỗi năm, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học trên địa bàn cung ứng cho thị trường lao động hàng chục nghìn lao động, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực của các khu, cụm công nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn.
Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin, dịch vụ và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Việc tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Đây là lợi thế quan trọng, tạo điều kiện để lực lượng sản xuất của tỉnh chuyển dịch theo hướng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và quản lý hiện đại, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất, chính sách sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực nhằm phát huy hiệu quả động lực phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Sự phát triển đó đặt ra yêu cầu tất yếu phải tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đặc biệt là các cơ chế, chính sách liên quan đến kinh tế tư nhân, nhằm giải phóng và phát huy hiệu quả tiềm năng của lực lượng sản xuất theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, tỉnh Thái Nguyên đã và đang từng bước đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất trên nhiều lĩnh vực:
Trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tỉnh chú trọng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân phát triển cả về số lượng và quy mô. Kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong tạo việc làm, đóng góp ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, qua đó phản ánh sự phù hợp ngày càng cao giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Trong nông nghiệp, khi lực lượng sản xuất chuyển từ sản xuất nhỏ, manh mún sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ, tỉnh đã thúc đẩy phát triển hợp tác xã kiểu mới, liên kết chuỗi giá trị, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Việc gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng thương hiệu nông sản (tiêu biểu là sản phẩm chè) chính là sự điều chỉnh quan hệ sản xuất nhằm phù hợp hơn với yêu cầu phát triển mới của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp.
Trong lĩnh vực lao động, việc phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW đòi hỏi quan hệ lao động phải được hoàn thiện theo hướng minh bạch, hài hòa, ổn định. Tỉnh đã chú trọng liên kết giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp trong đào tạo và sử dụng lao động, từng bước đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên vẫn còn những biểu hiện chưa thật sự đồng bộ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, như chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu công nghệ cao; một số cơ chế, chính sách đối với kinh tế tư nhân còn chậm đổi mới; liên kết giữa các thành phần kinh tế chưa thật sự chặt chẽ.
Những hạn chế đó đặt ra yêu cầu tỉnh cần tiếp tục vận dụng sâu sắc hơn nữa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, coi đây là định hướng quan trọng trong hoàn thiện quan hệ sản xuất. Trọng tâm là tiếp tục cải cách thể chế, tạo môi trường đầu tư - kinh doanh thực sự thông thoáng; khuyến khích kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực có hàm lượng khoa học - công nghệ cao; đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.
Việc vận dụng Nghị quyết số 68-NQ/TW trong quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất, là yêu cầu khách quan và cấp thiết đối với tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Đây không chỉ là giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, mà còn là động lực quan trọng để tạo chuyển biến căn bản trong chất lượng tăng trưởng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới.
Ma Trần Thu Hường
Phòng QLĐT&NCKH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập139
  • Hôm nay26,605
  • Tháng hiện tại213,548
  • Tổng lượt truy cập41,189,468
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây