Nhận thức của Chủ nghĩa Mác - Lênin về sự vận động, tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản và bài học đối với Việt Nam

Thứ ba - 28/04/2026 09:33
Nhìn trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản là một bước tiến có ý nghĩa cách mạng trong việc giải phóng lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự phát triển của nền văn minh.
1

Sự thay thế chế độ phong kiến bằng chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật chưa từng có, mở rộng quan hệ kinh tế và thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. C. Mác và Ph. Ăngghen đã đánh giá cao vai trò lịch sử đó khi khẳng định rằng giai cấp tư sản “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [1]. Nhận định này thể hiện cách tiếp cận khoa học, khách quan của chủ nghĩa Mác khi nhìn nhận chủ nghĩa tư bản như một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, chủ nghĩa tư bản cũng bộc lộ những mâu thuẫn nội tại mang tính bản chất. Trong tác phẩm Tư bản, C. Mác cho rằng giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của công nhân và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Qua đó có thể thấy rõ cơ chế vận hành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên việc chiếm đoạt lao động làm thuê thông qua quá trình tạo ra giá trị thặng dư. Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng việc theo đuổi lợi nhuận không chỉ là một mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là động lực chi phối toàn bộ hoạt động của các nhà tư bản.
Thực chất, sự giàu có của giai cấp tư sản được hình thành và không ngừng gia tăng thông qua quá trình tích lũy giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra, đúng như C. Mác đã khẳng định: “Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”[2].  Nhận định này cho thấy, trong chủ nghĩa tư bản, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh đều xoay quanh mục tiêu tối đa hóa giá trị thặng dư, qua đó không chỉ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất mà còn làm tái sản xuất và ngày càng sâu sắc thêm các mâu thuẫn kinh tế – xã hội vốn có.
Ở giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã kế thừa và phát triển những luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen khi phân tích sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ cạnh tranh tự do sang giai đoạn độc quyền. Trước đó, Ph. Ăngghen đã chỉ ra rằng mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản nằm ở sự đối lập giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này không ngừng phát triển cùng với sự mở rộng của lực lượng sản xuất và quy mô sản xuất xã hội.
Trên cơ sở đó, Lênin làm rõ rằng chính quá trình tích tụ và tập trung tư bản đã dẫn tới sự biến đổi về chất của chủ nghĩa tư bản. Khi sản xuất được tổ chức ở quy mô ngày càng lớn, cạnh tranh tự do dần bị thay thế bởi sự thống trị của các tổ chức độc quyền. Theo Lênin, khi quá trình tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một trình độ cao, tất yếu dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền. Điều này cho thấy độc quyền không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của quy luật phát triển nội tại của chủ nghĩa tư bản, phản ánh sự chuyển biến từ cạnh tranh tự do sang sự thống trị của một số ít tập đoàn lớn..
Sự hình thành và thống trị của các tổ chức độc quyền đã làm cho quyền lực kinh tế ngày càng tập trung vào tay một số ít các tập đoàn lớn, từ đó chi phối không chỉ lĩnh vực sản xuất mà còn cả thị trường, tài chính và đời sống chính trị – xã hội. Quá trình này vừa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, vừa làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân, cũng như mâu thuẫn giữa các trung tâm tư bản trong quá trình cạnh tranh và phân chia thị trường trên phạm vi toàn cầu.
Bên cạnh những mâu thuẫn nội tại mang tính bản chất, thực tiễn lịch sử cho thấy chủ nghĩa tư bản không tồn tại một cách thụ động mà luôn vận động thông qua quá trình tự nhận thức và điều chỉnh để thích ứng với những biến đổi của môi trường kinh tế – xã hội. Sự tự điều chỉnh này không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà phản ánh năng lực thích nghi của hệ thống nhằm duy trì sự ổn định và kéo dài sự tồn tại trong những điều kiện mới.
Trên phương diện kinh tế, sau các cuộc khủng hoảng lớn, đặc biệt là Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929–1933, các quốc gia tư bản đã từng bước điều chỉnh nhận thức về vai trò của thị trường và nhà nước. Từ chỗ đề cao tuyệt đối cơ chế thị trường tự do, họ chuyển sang mô hình kết hợp giữa thị trường và sự can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách tài khóa, tiền tệ và đầu tư công nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế chu kỳ khủng hoảng và bảo đảm tăng trưởng bền vững hơn. Điều này cho thấy sự điều chỉnh không chỉ diễn ra ở công cụ quản lý mà còn ở tư duy kinh tế.
Trên phương diện xã hội, chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng từng bước điều chỉnh nhằm thích ứng với áp lực từ phong trào công nhân và yêu cầu ổn định xã hội. Việc mở rộng hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao điều kiện lao động và cải thiện đời sống của một bộ phận người lao động không chỉ mang ý nghĩa nhân đạo, mà còn là giải pháp nhằm tái tạo sức lao động và duy trì trật tự xã hội trong khuôn khổ của hệ thống. Qua đó có thể thấy, sự điều chỉnh xã hội thực chất gắn liền với yêu cầu ổn định và tái sản xuất các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong bối cảnh hiện đại, dưới tác động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, chủ nghĩa tư bản tiếp tục thể hiện khả năng thích ứng thông qua việc tái cấu trúc phương thức sản xuất và tổ chức kinh tế. Sự nổi lên của các tập đoàn công nghệ lớn, kinh tế nền tảng và chuỗi giá trị toàn cầu cho thấy một hình thức điều chỉnh mới, trong đó quyền lực kinh tế ngày càng gắn với tri thức, dữ liệu và công nghệ. Tuy nhiên, chính quá trình này lại làm nảy sinh những dạng bất bình đẳng mới, làm sâu sắc thêm khoảng cách phát triển và tạo ra những thách thức mới đối với ổn định xã hội.
Từ góc độ lý luận, có thể nhận thấy rằng sự tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản thực chất là quá trình thích ứng nhằm làm dịu và quản lý các mâu thuẫn nội tại, chứ không phải là sự khắc phục triệt để những mâu thuẫn đó. Những điều chỉnh về kinh tế, xã hội hay thể chế chỉ làm thay đổi hình thức biểu hiện của các mâu thuẫn, khiến chúng trở nên phức tạp và tinh vi hơn, nhưng không làm thay đổi bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do đó, sự vận động và tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản vừa phản ánh khả năng thích nghi linh hoạt của hệ thống, vừa khẳng định những giới hạn lịch sử không thể vượt qua của nó.
Thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm cơ bản của C. Mác về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản thông qua cơ chế giá trị thặng dư, cũng như về mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, những phân tích của V.I. Lênin về xu hướng tập trung tư bản và sự hình thành các tổ chức độc quyền vẫn tiếp tục được chứng minh trong thực tiễn phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện nay. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh đáng kể như tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước, phát triển hệ thống phúc lợi xã hội và cải cách thể chế kinh tế, nhưng những điều chỉnh này không làm thay đổi bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đảng ta khi bàn về chủ nghĩa tư bản ngày nay đã khẳng định: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không được giải quyết mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị và xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”[3].
Mặc dù có sự điều chỉnh, thích nghi nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Đúng như nhận định của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Kinh tế suy thoái đã làm bộc lộ rõ những bất công xã hội trong các nước tư bản chủ nghĩa: đời sống của đại bộ phận người lao động bị suy giảm nghiêm trọng, tình trạng thất nghiệp gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng, từ đó làm gia tăng các mâu thuẫn và xung đột trong xã hội. Thực tiễn đó cho thấy, dù có những biến đổi nhất định, bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi. Dù được điều chỉnh và thích nghi dưới nhiều hình thức khác nhau, chủ nghĩa tư bản vẫn là một xã hội trong đó sự phát triển chủ yếu phục vụ mục tiêu lợi nhuận, chưa thực sự hướng tới con người. Trong khuôn khổ đó, lợi ích kinh tế tiếp tục giữ vai trò chi phối, làm cho các giá trị nhân văn và phẩm giá con người chưa được bảo đảm một cách đầy đủ và bền vững [4]
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa tư bản, dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng không phải là điểm kết thúc của lịch sử nhân loại. Với những mâu thuẫn nội tại mang tính bản chất, hệ thống này không thể tự vượt qua những giới hạn lịch sử của chính nó. Do đó, xu thế vận động khách quan của lịch sử là hướng tới một hình thái kinh tế – xã hội tiến bộ hơn, phản ánh khát vọng phát triển vì con người, công bằng và bền vững.
Từ việc nhận thức đúng đắn sự vận động và khả năng tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, có thể rút ra những bài học quan trọng, vừa mang ý nghĩa phương pháp luận, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với con đường phát triển của Việt Nam hiện nay.
Trước hết, cần tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như một lựa chọn mang tính tất yếu lịch sử. Những luận điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản không phải là hình thái kinh tế – xã hội cuối cùng, mà chỉ là một giai đoạn phát triển có tính lịch sử, chứa đựng những mâu thuẫn nội tại không thể khắc phục triệt để. Điều này khẳng định tính đúng đắn về mặt lý luận và thực tiễn của con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn, đồng thời củng cố niềm tin vào mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đại hội đại biểu toàn quốc làn XIV của đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”[5]
Thứ hai, cần có nhận thức toàn diện, biện chứng về chủ nghĩa tư bản hiện đại. Một mặt, phải thừa nhận rằng chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển và có nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, quản trị và tổ chức sản xuất. Mặt khác, cần thấy rõ rằng những thành tựu đó không làm mất đi bản chất của hệ thống, mà chỉ làm thay đổi hình thức biểu hiện của các mâu thuẫn. Vì vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam cần chủ động tiếp thu có chọn lọc các thành tựu của nhân loại, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, Việt Nam cần khẳng định và phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn giữ vai trò định hướng phát triển, điều tiết vĩ mô và bảo đảm công bằng xã hội. Thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng hệ thống chính sách và sử dụng hiệu quả các công cụ tài khóa, tiền tệ, Nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát các rủi ro và hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Thứ tư, cần đặc biệt chú trọng giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển con người toàn diện. Thực tiễn của các nước tư bản cho thấy, nếu thiếu cơ chế điều tiết hiệu quả, nền kinh tế thị trường dễ dẫn đến phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng. Do đó, Việt Nam cần kiên trì thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi người dân, qua đó thực hiện mục tiêu phát triển vì con người.
Thứ năm, việc nhận thức đúng bản chất và xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy lý luận. Điều này góp phần giúp Việt Nam chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Như vậy, việc nghiên cứu sự vận động và khả năng tự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản không chỉ có ý nghĩa nhận thức lý luận mà còn mang giá trị định hướng thực tiễn sâu sắc đối với Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới đang biến đổi nhanh chóng và phức tạp, việc kiên định nền tảng tư tưởng, đồng thời vận dụng sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. Điều đó không chỉ bảo đảm cho sự phát triển đúng hướng, mà còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một xã hội phát triển bền vững, vì con người, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.  Báo Quân đội nhân dân (02/12/2017), Nhận thức đúng để có hành động đúng, truy cập tại: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/nhan-thuc-dung-de-co-hanh-dong-dung-660521
2.  C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4.
3.  C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 23.
4.  Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. .
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, II.
6.  Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
 

1. .C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 603
2. .C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập,, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. t 23
3 ..  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.68. 
4. .https://www.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/nhan-thuc-dung-de-co-hanh-dong-dung-660521
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II. tr372

ThS. Nguyễn Thành Chung
Giảng viên chính khoa Lý luận cơ sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập219
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm217
  • Hôm nay24,885
  • Tháng hiện tại1,265,559
  • Tổng lượt truy cập40,819,418
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây