Phản bác quan điểm “phải chờ đến khi kinh tế phát triển đạt trình độ cao rồi mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”

Thứ hai - 08/06/2026 09:50
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn xác định phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là yêu cầu tất yếu để bảo đảm phát triển bền vững. Tuy nhiên, vẫn tồn tại quan điểm cho rằng “phải chờ đến khi kinh tế phát triển đạt trình độ cao rồi mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.
Theo quan điểm này, phát triển văn hóa, bảo đảm công bằng xã hội hay bảo vệ môi trường là những mục tiêu mang tính lâu dài, có thể tạm thời đặt sau yêu cầu tăng trưởng kinh tế các vấn đề về văn hóa, xã hội, giải quyết khi nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao. Đây là quan điểm phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà xem nhẹ văn hóa, công bằng xã hội và môi trường thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy như gia tăng bất bình đẳng, suy thoái đạo đức, mất an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường và mất cân bằng trong phát triển.
Để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn chặt với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường ngay trong từng bước phát triển. Mối quan hệ “Giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” được Đảng ta xác định là một trong mười mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam[1]. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường không phải là những nhiệm vụ “đi sau” hay phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ phát triển kinh tế mà phải được triển khai đồng thời, gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế ngay từ đầu, bởi:
Thứ nhất, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Phát triển kinh tế xét đến cùng phải hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Nếu kinh tế tăng trưởng nhưng văn hóa xuống cấp, đạo đức xã hội suy thoái, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, môi trường bị tàn phá thì sự phát triển ấy không còn mang ý nghĩa nhân văn và tiến bộ.
Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Quan điểm trên khẳng định văn hóa giữ vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng thúc đẩy sự phát triển đất nước. Một nền kinh tế phát triển nhưng thiếu nền tảng văn hóa sẽ dễ dẫn tới lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất bằng mọi giá, làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, gian lận, xuống cấp đạo đức, bạo lực học đường và khủng hoảng niềm tin trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, nơi nào coi nhẹ xây dựng văn hóa thường kéo theo sự suy giảm các giá trị đạo đức và ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển bền vững.
Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó cho thấy, phát triển văn hóa không phải là nhiệm vụ “đợi giàu mới làm” mà phải được thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế.
Cùng với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội cũng không thể chờ đến khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện. Nếu chỉ tập trung phát triển kinh tế mà bỏ quên người yếu thế, để khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng thì sẽ làm phát sinh những mâu thuẫn xã hội, gây mất ổn định chính trị và cản trở sự phát triển lâu dài của đất nước. Một xã hội mà thành quả phát triển chỉ tập trung vào một bộ phận nhỏ sẽ không thể tạo được sự đồng thuận xã hội cũng như tạo động lực phát triển bền vững.
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy, tăng trưởng kinh tế không tự động dẫn tới tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế tại Brazil và Nam Phi dù đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao nhưng vẫn thuộc nhóm quốc gia có mức bất bình đẳng thu nhập lớn nhất thế giới, tình trạng phân hóa giàu nghèo sâu sắc, bất bình đẳng xã hội gia tăng, người lao động bị bóc lột, tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Điều đó khẳng định, nếu thiếu các chính sách an sinh xã hội, điều tiết phân phối thu nhập và bảo đảm công bằng trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản thì tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng phân hóa giàu nghèo, kéo theo nhiều hệ lụy về xã hội và phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, ngay trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm lo giáo dục, y tế, hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam trong nhiều năm qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo số liệu công bố của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong những năm gần đây. Nếu năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của cả nước ở mức 9,88% thì đến cuối năm 2024 giảm còn khoảng 1,93% hộ nghèo; năm 2025 tiếp tục giảm xuống khoảng 1,30%[2]. Điều đó khẳng định rõ quan điểm nhất quán của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.
Bảo vệ môi trường là yêu cầu tất yếu, không thể chờ đến khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện. Môi trường là điều kiện sống cơ bản của con người, là không gian tồn tại của xã hội và nền kinh tế. Nếu đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế trước mắt thì hậu quả để lại sẽ rất nghiêm trọng và nhiều trường hợp không thể khắc phục trong thời gian ngắn. Thực tiễn thế giới hiện nay cho thấy nhiều quốc gia đang phải đối mặt với những tác động nặng nề của biến đổi khí hậu như nước biển dâng, thiên tai cực đoan, hạn hán, cháy rừng và suy giảm đa dạng sinh học. Theo Liên Hợp quốc, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 1,1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, kéo theo hàng loạt hệ lụy về kinh tế, xã hội và môi trường. Tại Hội nghị COP26 tổ chức ở Glasgow, nhiều quốc gia đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, cho thấy bảo vệ môi trường đã trở thành yêu cầu cấp thiết mang tính toàn cầu[3].
Thực tế cũng cho thấy, nhiều thành phố lớn trên thế giới dù có trình độ phát triển kinh tế cao nhưng vẫn phải chi những khoản kinh phí rất lớn để xử lý ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và phục hồi hệ sinh thái. Ở Việt Nam, sự cố môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016 đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường biển, đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất tại nhiều tỉnh miền Trung. Đây là bài học thực tiễn sâu sắc cho thấy nếu chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ bảo vệ môi trường thì chính nền kinh tế và xã hội cũng sẽ phải gánh chịu hậu quả lâu dài. Vì vậy, phát triển kinh tế phải luôn gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Thứ hai, thực tiễn phát triển của Việt Nam khẳng định phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường ngay từ đầu
Ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã xác định rõ quan điểm phát triển toàn diện và bền vững. Các văn kiện của Đảng qua nhiều kỳ Đại hội đều nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, Việt Nam không chỉ đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế mà còn đạt nhiều kết quả quan trọng trong lĩnh vực xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao; hệ thống giáo dục, y tế, an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; chỉ số phát triển con người ngày càng được cải thiện. Những kết quả đó là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của quan điểm phát triển gắn kết hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội và môi trường.
Trong lĩnh vực môi trường, mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Điều đó cho thấy, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường không phải là hai mục tiêu đối lập mà luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau nếu có định hướng phát triển đúng đắn. Ngược lại, thực tiễn cũng chứng minh rằng những nơi chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá thường phải đối mặt với nhiều hệ lụy nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên, mất cân bằng xã hội, xuống cấp đạo đức và bất ổn xã hội. Những hậu quả đó không chỉ ảnh hưởng tới đời sống Nhân dân mà còn làm suy giảm động lực phát triển kinh tế trong tương lai.
Thứ ba, quan điểm “phát triển kinh tế trước, giải quyết văn hóa - xã hội - môi trường sau” phản ánh tư duy phát triển ngắn hạn, thiếu bền vững
Quan điểm này phản ánh nhận thức phiến diện khi tuyệt đối hóa vai trò của tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ sự phát triển toàn diện của con người và xã hội. Nếu chỉ lấy GDP làm thước đo duy nhất cho sự phát triển thì rất dễ dẫn tới tình trạng coi nhẹ chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của Nhân dân và sự bền vững của xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Một quốc gia muốn phát triển lâu dài không chỉ cần tiềm lực kinh tế mà còn cần nền tảng văn hóa vững mạnh, xã hội ổn định, môi trường sống an toàn và con người phát triển toàn diện. Những yếu tố đó có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời hoặc thực hiện theo kiểu “làm trước - làm sau”.
Đối với Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, phát triển kinh tế phải luôn gắn liền với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của sự phát triển mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn có thể khẳng định, quan điểm phải chờ đến khi kinh tế phát triển đạt trình độ cao rồi mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là sai lầm, phiến diện và thiếu cơ sở thực tiễn. Kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Phát triển bền vững đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển. Đó cũng chính là con đường đúng đắn để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam.
3. VietnamPlus (2026), “Công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước năm 2025”, ngày 16/3/2026.
4. Báo Điện tử Chính phủ (2023), “Việt Nam tích cực, chủ động triển khai bài bản các cam kết tại COP26”.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2, trang 40.
[2] VietnamPlus (2026), “Công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước năm 2025”, ngày 16/3/2026.
[3] Báo Điện tử Chính phủ (2023), “Việt Nam tích cực, chủ động triển khai bài bản các cam kết tại COP26”

     ThS. Cù Thị Thu Trang
                                                                Trưởng khoa Lý luận cơ sở

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê website
  • Đang truy cập187
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm183
  • Hôm nay17,248
  • Tháng hiện tại805,838
  • Tổng lượt truy cập43,924,076
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây