Thái Nguyên được Bộ Chính trị xác định là một cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế – công nghiệp, giữ vai trò động lực phát triển của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Với lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông kết nối thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào và sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn, Thái Nguyên đã và đang trở thành một trong những trung tâm sản xuất điện tử và công nghiệp công nghệ cao quan trọng của cả nước.
Nhận thức rõ vai trò, vị thế và cơ hội chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, tỉnh Thái Nguyên đã xác định phát triển số và phát triển xanh là định hướng chủ đạo, gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, tự chủ và hội nhập sâu rộng. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 đã xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong ba nhiệm vụ đột phá, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp công nghệ cao.
Chương trình hành động số 04-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa chủ trương trên, xác định việc xây dựng Đề án Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2026–2030 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bối cảnh quốc tế, trong nước và định hướng phát triển của tỉnh, việc xây dựng và ban hành Đề án Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2026–2030 là yêu cầu tất yếu, khách quan. Đề án có ý nghĩa chiến lược trong việc phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trong kỷ nguyên số.
- Mục tiêu tổng quát: Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp ủy, phối hợp, chỉ đạo của chính quyền các cấp nhằm triển khai thực hiện và hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; đồng thời thực hiện đầy đủ, thống nhất các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW; Quyết định số 204-QĐ/TW; Nghị quyết số 71/NQ-CP, Nghị quyết số 193/2025/QH15; Kế hoạch hành động số 15-KH/TU, ngày 12/9/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Qua đó thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong
những động lực tăng trưởng chính của tỉnh.
- Mục tiêu cụ thể:
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt, tạo đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và đời sống Nhân dân, từng bước đưa tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp, công nghệ và đổi mới sáng tạo của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Trước hết, tập trung phát triển hạ tầng số hiện đại, đồng bộ và bền vững. Phấn đấu đến năm 2030, mạng di động 5G phủ sóng 100% địa bàn tỉnh, sẵn sàng thử nghiệm mạng 6G; 100% người sử dụng có khả năng tiếp cận băng rộng cố định với tốc độ trên 01 Gbps. Chất lượng dịch vụ internet không ngừng được nâng cao, bảo đảm tốc độ tải xuống trung bình của mạng 4G đạt tối thiểu 40 Mbps, mạng 5G đạt tối thiểu 100 Mbps, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.
Song song với đó, ưu tiên phát triển nguồn lực khoa học, công nghệ và nhân lực số. Phấn đấu tỷ lệ chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt khoảng 3% GRDP. Phát triển mạnh nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, AI, dữ liệu, IoT…, lấy Đại học Thái Nguyên làm nòng cốt đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao tri thức. Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức được bồi dưỡng, làm chủ kỹ năng số; 100% dân số trưởng thành được tiếp cận các dịch vụ số thiết yếu trong y tế, giáo dục, bảo hiểm, giao thông; xây dựng cơ chế thu hút nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho cấp xã.
Nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phấn đấu thuộc nhóm dẫn đầu cả nước ở nhiều lĩnh vực quan trọng. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 đạt trên 55%. Toàn tỉnh có khoảng 1.800 cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ, 70 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tối thiểu 01 tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc tỉnh. Trên 70% kết quả khoa học và công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn; tăng cường liên kết viện – trường – doanh nghiệp, phấn đấu tối thiểu 25% doanh nghiệp sử dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, Big Data trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, đô thị thông minh, du lịch thông minh; thúc đẩy phát triển và thương mại hóa tài sản trí tuệ.
Hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động, hiệu quả. Phấn đấu chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) thuộc nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước; toàn tỉnh có khoảng 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, 07 vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo; ít nhất 25% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo; tăng tỷ lệ thương mại hóa sản phẩm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ thường xuyên các dự án đổi mới sáng tạo từ ngân sách tỉnh.
Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp và xã hội. Phấn đấu chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh đạt 0,8; 100% thủ tục hành chính được giải quyết trực tuyến, phi tiếp xúc, không phụ thuộc địa giới hành chính; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa và cấp điện tử. 100% hệ thống thông tin của tỉnh vận hành trên nền tảng điện toán đám mây; trên 90% cơ sở dữ liệu được số hóa, liên thông với Trung ương; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 35% GRDP; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt trên 50%.
Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và an ninh dữ liệu là yêu cầu xuyên suốt. Phấn đấu đưa tỉnh vào nhóm địa phương dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng; 100% hệ thống thông tin được bảo đảm an toàn theo cấp độ, giám sát thường xuyên, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Đề án đưa ra 8 nhiệm vụ và giải pháp như sau:
1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh công tác học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, định hướng của Trung ương và của tỉnh, trọng tâm là Nghị quyết số 57-NQ/TW. Đưa nội dung khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ xuyên suốt trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của các ngành, địa phương.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhằm đổi mới phương thức làm việc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương. Mỗi địa phương lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với đặc thù, tiềm năng và thế mạnh, vừa phát huy lợi thế sẵn có, vừa mở ra không gian tăng trưởng mới, triển khai theo nguyên tắc “AI First” trong hoạt động quản lý, điều hành và phát triển.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường kiểm soát công nghệ đối với các dự án đầu tư, kiên quyết không tiếp nhận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Phát huy vai trò điều phối liên ngành của Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phân công nhiệm vụ rõ ràng, gắn trách nhiệm với sản phẩm, tiến độ và cơ chế giám sát.
2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực
Chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức và người dân đầu tư vào nghiên cứu, phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tháo gỡ các rào cản về thể chế, thủ tục hành chính, nguồn nhân lực và tài chính.
Xây dựng cơ chế thu hút, thuê chuyên gia, nhân lực trình độ cao; cơ chế tuyển dụng nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho cấp xã. Giao Đại học Thái Nguyên giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao; tỉnh thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo và nghiên cứu. Thu hút các tập đoàn công nghệ cao đầu tư quy mô lớn gắn với hình thành trung tâm nghiên cứu – phát triển (R&D) tại địa phương.
Thí điểm cơ chế sandbox đối với các nhiệm vụ ứng dụng AI, Big Data, IoT, blockchain và công nghệ mới trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp, đô thị thông minh. Áp dụng cơ chế khoán chi, đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ; nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh, tiến tới xây dựng Quỹ đầu tư mạo hiểm khi có hướng dẫn của Trung ương. Ưu tiên nguồn lực cho phát triển nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh hợp tác công tư trong đầu tư hạ tầng số và các nền tảng dùng chung.
3. Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao, chế biến chế tạo, các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao; giảm dần các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu. Tập trung tiếp thu, làm chủ và phát triển các công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ số như AI, IoT, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, blockchain, bán dẫn, 5G–6G; ưu tiên các giải pháp phục vụ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng phó biến đổi khí hậu.
Ưu tiên phát triển một số nhóm công nghệ chiến lược; phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp số, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đẩy mạnh liên kết “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp”, coi đây là nguyên tắc xuyên suốt trong phát triển khoa học và công nghệ; thúc đẩy chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực; xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo vùng Việt Bắc do Đại học Thái Nguyên và Sở Khoa học và Công nghệ đồng chủ trì, lấy Phim trường số làm hạt nhân ban đầu. Ưu tiên đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tính ứng dụng cao, giải quyết các vấn đề bức thiết của tỉnh như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu nông sản, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo.
Tăng cường bảo hộ, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ; nâng cao hiệu quả quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng tinh gọn, hiệu quả; thúc đẩy ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; nghiên cứu phát triển tín chỉ carbon của tỉnh.
4. Phát triển hạ tầng số và dữ liệu
Xây dựng hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, an toàn, có khả năng dự phòng cao; ưu tiên phát triển tại các khu công nghiệp, đô thị thông minh, khu hành chính tập trung và vùng khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách số. Thu hút đầu tư phát triển khu công nghệ thông tin tập trung, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; đẩy mạnh chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng số.
Công bố và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh; cung cấp dữ liệu mở theo kế hoạch; đưa toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước lên môi trường số, tăng cường chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát môi trường, quản lý tài nguyên, cảnh báo thiên tai và phát triển nông nghiệp thông minh.
5. Phát triển nền tảng số và chính quyền số
Triển khai đồng bộ các hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; đẩy mạnh xác thực điện tử, chữ ký số; phát triển các nền tảng điều hành thông minh, trung tâm giám sát, điều hành dựa trên dữ liệu. Tích hợp, liên thông các cơ sở dữ liệu chuyên ngành với hệ thống Trung ương; ứng dụng AI trong phân tích, dự báo, hỗ trợ ra quyết định.
Phát triển nền tảng kết nối doanh nghiệp với chuyên gia, viện, trường; thúc đẩy doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng số và thương mại điện tử; mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
6. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo gắn với nhu cầu thị trường; xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực khoa học và công nghệ. Tiếp tục triển khai “Bình dân học vụ số”; nâng cao vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng trong phổ cập kỹ năng số cho người dân.
7. Bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số
Thành lập Trung tâm An ninh mạng cấp tỉnh; xây dựng đội ngũ chuyên trách giám sát, cảnh báo và ứng cứu sự cố. Ban hành và thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn hệ thống thông tin; định kỳ tổ chức kiểm tra, đánh giá, diễn tập an ninh mạng.
8. Đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong và ngoài nước
Tăng cường phối hợp với các bộ, ngành Trung ương, các địa phương và đối tác quốc tế để thu hút nguồn lực, chuyển giao công nghệ, học tập kinh nghiệm. Ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ xanh, công nghệ số; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ tiên tiến phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh.
Thu Hường
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn