Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đất nước đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế biển, hoàn thiện thể chế, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống cư dân ven biển. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới về quản trị biển, phát triển khoa học và công nghệ biển, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khai thác hiệu quả không gian biển, đồng thời bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 28/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây là nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển biển, đồng thời mở ra định hướng phát triển dài hạn nhằm đưa biển trở thành không gian phát triển chiến lược và động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về phát triển biển:
Điểm nổi bật của Nghị quyết số 20-NQ/TW là sự chuyển biến rõ nét về tư duy phát triển. Nếu Nghị quyết số 36-NQ/TW chủ yếu tập trung vào phát triển bền vững kinh tế biển thì Nghị quyết số 20-NQ/TW đã mở rộng tầm nhìn với mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây không chỉ là sự thay đổi về phạm vi mục tiêu mà còn là sự phát triển về chất trong nhận thức lý luận của Đảng.
Nghị quyết xác định biển không chỉ là nguồn tài nguyên để khai thác mà là không gian phát triển chiến lược, là cửa ngõ hội nhập quốc tế, là nền tảng của sức mạnh tổng hợp quốc gia và gắn chặt với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, phát triển quốc gia biển mạnh phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, xây dựng văn hóa biển, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
Một điểm mới có ý nghĩa lý luận sâu sắc là Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy khai thác biển sang tư duy quản trị biển hiện đại, từ quản lý theo từng ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển toàn diện quốc gia biển mạnh. Đây là sự tiếp cận phù hợp với xu hướng quản trị đại dương hiện đại của thế giới, đồng thời phản ánh yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại:
Quan điểm nổi bật mang tính đột phá trong Nghị quyết số 20-NQ/TW là xây dựng nền quản trị biển quốc gia hiện đại trên cơ sở dữ liệu số, quy hoạch không gian biển và quản lý tổng hợp tài nguyên biển.
Theo Nghị quyết, quản trị biển phải được thực hiện thống nhất đối với toàn bộ vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; bảo đảm sự điều phối hiệu quả giữa các ngành, các cấp và các địa phương. Việc hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển quốc gia được xác định là khâu đột phá nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển.
Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế giao, cho thuê, khai thác không gian biển theo nguyên tắc công khai, minh bạch; xác lập đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động trên biển. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy hiệu quả nguồn lực biển, đồng thời tăng cường kiểm soát, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái biển.
Phát triển kinh tế biển hiện đại trở thành động lực tăng trưởng mới:
Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định phát triển kinh tế biển không chỉ nhằm khai thác lợi thế tự nhiên mà hướng tới xây dựng hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Đồng thời xác định nhiều ngành kinh tế biển giữ vai trò động lực như kinh tế hàng hải, công nghiệp đóng tàu, logistics biển, dầu khí, năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, du lịch biển chất lượng cao, công nghệ sinh học biển, kinh tế tuần hoàn biển và các ngành kinh tế biển mới.
Đặc biệt, lần đầu tiên nhiều lĩnh vực phát triển mới như điện gió ngoài khơi, hydro xanh, amoniac xanh, trung tâm dữ liệu ven biển, cáp ngầm biển tốc độ cao, công nghệ biển sâu được xác định là những lĩnh vực ưu tiên phát triển trong chiến lược quốc gia biển mạnh. Điều này thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng trong việc đón đầu các xu hướng phát triển của kinh tế đại dương toàn cầu.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực cốt lõi
Một điểm mới nổi bật của Nghị quyết là coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính để phát triển quốc gia biển mạnh.
Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu biển quốc gia thống nhất; phát triển bản đồ số biển; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, viễn thám và công nghệ biển sâu trong quản trị biển. Đồng thời, ưu tiên đầu tư các trung tâm nghiên cứu biển hiện đại, tàu nghiên cứu biển sâu và hệ thống quan trắc, dự báo, cảnh báo thiên tai trên biển.
Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng khi chuyển từ khai thác tài nguyên dựa trên lợi thế tự nhiên sang phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Phát triển biển gắn với bảo vệ môi trường và bảo vệ chủ quyền quốc gia là quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết. Đảng khẳng định kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần; phát triển kinh tế biển phải nằm trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái biển và đại dương.
Nghị quyết dành nhiều nội dung cho bảo tồn đa dạng sinh học biển, mở rộng các khu bảo tồn biển, phục hồi rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô; kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và giảm rác thải nhựa đại dương.
Đồng thời, Nghị quyết tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Phát triển quốc gia biển mạnh phải gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển; nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và giải quyết các vấn đề trên biển bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Hồng Minh